Hệ thống trưng bày

Đặc sắc hoa văn trên Bảo vật Quốc gia

Cổ vật Việt Nam

Sưu tập Báo chí cách mạng VN (1925-1945)

Video mới

Thông báo

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 793
    Thành viên online:
    1.host
    Số lượt truy cập: 35724566
  • Di sản văn hóa Phật giáo
  • Đèn cổ Việt Nam
Cập nhật ngày: 16/ 5/ 2011
Việt Nam thời tiền sử
Với diện tích 200 m2 và khoảng hơn 1000 hiện vật, phòng trưng bày này giới thiệu các giai đoạn phát triển của thời kỳ Tiền sử trên đất Việt Nam. Những lớp cư dân nguyên thuỷ, qua quá trình sinh tồn đã sáng tạo nên những nền văn hoá nổi tiếng, phát triển liên tục từ thời đại Đá cũ đến thời đại Đá mới, cách ngày nay khoảng 300.000 - 4000 năm.

Với diện tích 200 m2 và khoảng hơn 1000 hiện vật, phòng trưng bày này giới thiệu các giai đoạn phát triển của thời kỳ Tiền sử trên đất Việt Nam. Những lớp cư dân nguyên thuỷ, qua quá trình sinh tồn đã sáng tạo nên những nền văn hoá nổi tiếng, phát triển liên tục từ thời đại Đá cũ đến thời đại Đá mới, cách ngày nay khoảng 300.000 - 4000 năm. Phòng trưng bày chia làm hai giai đoạn:

Sơ đồ tiến hóa của loài người trong phòng trưng bày

 
- Thời đại đồ Đá cũ gồm các di tích và nền văn hoá: Núi Đọ, Thần Sa, Sơn Vi… Những di vật tiêu biểu gồm: rìu tay, công cụ chặt thô, răng người vượn và xương cốt các loài động vật đã hoá thạch, công cụ hình múi bưởi, công cụ một phần tư hòn cuội, công cụ rìa lưỡi ngang, công cụ rìa lưỡi dọc…

- Thời đại đồ Đá mới, điển hình là văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Đa Bút, Cái Bèo, Hạ Long, Hoa Lộc, Xóm Cồn… Hiện vật tiêu biểu gồm công cụ rìu ngắn, công cụ hình đĩa, công cụ hình bầu dục, công cụ hình hạnh nhân, đồ gốm, rìu tứ giác, rìu có vai, đục, cuốc… Sưu tập hiện vật này thể hiện quá trình phát triển của kỹ nghệ chế tác đá từ những chiếc rìu mài lưỡi thô sơ đến đa dạng loại hình công cụ của cư dân nguyên thuỷ.

Mở đầu phần trưng bày là những di tích sơ kỳ thời đại đồ đá cũ và những di vật phát hiện ở các di chỉ khảo cổ học Núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hoá), Hàng Gòn, Dầu Giây (Xuân Lộc - Đồng Nai) như: rìu tay, công cụ chặt thô, mảnh tước.v.v... . Đặc biệt là những chiếc răng người vượn cùng các di cốt hoá thạch của nhiều loại động vật trong hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Tân Văn - Lạng Sơn) và những di tích cổ sinh khác ở Phai Vệ, Kéo Lèng (Lạng Sơn), Hang Hùm (Yên Bái). Đây là những chứng tích xa xưa nhất của người nguyên thuỷ trên đất Việt Nam, cách ngày nay 300.000 - 400.000 vạn năm. Những di tích hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, đại diện tiêu biểu là hai nhóm di tích - hai nền văn hoá khảo cổ: văn hoá Thần Sa (Thái Nguyên) và văn hoá Sơn Vi (Phú Thọ). Đặc trưng chung của hai nền văn hoá này là cùng sử dụng nguyên liệu đá cuội để chế tác công cụ nhưng theo những kỹ nghệ khác nhau. Ở Thần Sa là kỹ nghệ mảnh với hiện vật đặc trưng là công cụ mảnh tước có tu chỉnh, còn ở Sơn Vi là kỹ nghệ hạch với công cụ chặt hình múi bưởi, công cụ 1/4 viên cuội v.v... Hai nền văn hoá này có niên đại khoảng từ 15.000 - 30.000 năm cách ngày nay.

Tiếp theo là phần trưng bày những di tích thuộc thời đại đồ đá mới, tiêu biểu là văn hoá Hoà Bình (Hoà Bình) - một nền văn hoá khảo cổ nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á và thế giới. Địa bàn phân bố của văn hoá Hoà Bình chủ yếu trong các hang động và mái đá thuộc các tỉnh Hoà Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, cách ngày nay khoảng 10.000 - 16.000 năm . Đặc trưng tiêu biểu của văn hoá Hoà Bình là công cụ được chế tạo từ đá cuội với kỹ thuật ghè đẽo một mặt, loại hình công cụ phong phú, ổn định với chức năng sử dụng riêng biệt. Hiện vật được trưng bày ở phần này gồm: rìu ngắn, công cụ hình đĩa, công cụ hình hạnh nhân, bắt đầu xuất hiện rìu mài lưỡi và buộc ghép cán. Sự xuất hiện của đồ gốm cùng kết quả phân tích bào tử phấn hoa là những bằng chứng rõ ràng về sự ra đời của nền nông nghiệp trồng trọt sơ khai ở khu vực này.
 
 
Mô hình hang động Hòa Bình cách đây 10 - 16.000 năm
 
Văn hoá Bắc Sơn trưng bày nối tiếp sau văn hoá Hoà Bình. Nhiều hiện vật tiêu biểu của nền văn hoá này được trưng bày ở đây như rìu mài lưỡi, bàn mài, chày và bàn nghiền, công cụ mài có dấu lõm đôi song song (còn được gọi tên riêng là "dấu Bắc Sơn"), rìu buộc ghép cán, đồ gốm, hộp sọ người.... Tất cả đã thể hiện bước phát triển cao hơn trên cơ sở kế thừa của nền văn hoá Hoà Bình trước đó. Văn hóa Bắc Sơn phân bố chủ yếu trong các hang động, mái đá vùng sơn khối đá vôi thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, cách ngày nay khoảng 8.000 - 10.000 năm .

Sau văn hoá Bắc Sơn là những di tích khảo cổ học có niên đại khoảng 5.000 - 6.000 năm cách ngày nay. Hiện vật trưng bày là những di vật tìm thấy trong các cồn sò, điệp ở ven biển thuộc các di tích Quỳnh Văn (Nghệ An), Đa Bút (Thanh Hoá), Cái Bèo (Hải Phòng), Bàu Dũ (Quảng Nam)...

Giai đoạn hậu kỳ thời đại đồ đá mới được trưng bày giới thiệu ở phần cuối phòng trưng bày đặc biệt phong phú, đa dạng với các di tích tìm thấy ở mọi miền đất nước từ miền núi, trung du, đồng bằng đến miền ven biển và hải đảo. Cư dân nguyên thuỷ thời kỳ này đã đẩy kỹ thuật chế tác đá lên đến đỉnh cao của sự tinh tế và thẩm mỹ, bao gồm các kỹ thuật: ghè đẽo, cưa, khoan, mài, dũa, ép đá, đánh bóng và đã cho ra đời hàng loạt các loại hình công cụ, đồ trang sức rất tinh xảo như rìu tứ giác, rìu có vai, khuyên tai, vòng tay, hạt chuỗi, các đồ đựng bằng đất nung trang trí đẹp mắt.

Tất cả những dấu tích xa xưa nhất của người nguyên thuỷ và những nền văn hoá tiêu biểu từ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới trên đất Việt Nam, phát triển liên tục trên cơ sở kế thừa có hệ thống, đã tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất xã hội quan trọng để Việt Nam bước sang thời đại kim khí - thời đại dựng nước đầu tiên của dân tộc với những bản sắc riêng.