Cập nhật: 12:49 AM GMT+7, Thứ tư, 06/12/2017
    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    * Điều kiện lịch sử -văn hóa ở Nam Kỳ


    Tháng 8-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. 6 tháng sau, Pháp nhanh chóng chiếm cứ thành Gia Định. Năm 1862, triều đình Huế mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Đến năm 1867 toàn Lục tỉnh Nam Kỳ đã thuộc Pháp. Nam Kỳ là thuộc địa đầu tiên, là xứ trực trị duy nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương. Đó chính là tiền đề để Lục tỉnh Nam Kỳ, trong đó thủ phủ Sài Gòn - Gia Định trở thành nơi đầu tiên tiếp nhận văn hóa, văn minh Tây phương, văn hóa văn minh Pháp.

    Quân đội Pháp đánh chiếm thành Gia Định, năm 1859.

    Trước khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-1883), giới thượng lưu Sài Gòn đã bận đồ Tây, ăn bánh mỳ sáng với sữa, vào tiệm sách Catinat mua những báo, sách truyện, thơ văn dịch từ chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp ra chữ quốc ngữ để thưởng thức.

    Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được viết theo phong cách tiểu thuyết Pháp là cuốn Truyện thầy Lazarô phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, bộ phim đầu tiên được trình chiếu vào 1898 đến những chiếc xích lô đầu tiên... đều xuất hiện ở Nam Kỳ.

    Truyện thầy Lazarô phiền của Nguyễn Trọng Quản, bản in năm 1934,
    hiện có tại
    Thư viện Quốc gia, Hà Nội.

    Đặc biệt, Sài Gòn-Nam Kỳ là cái nôi đầu tiên của nền báo chí Việt Nam, từ những tờ công báo đầu tiên của Pháp đến 1865, tờ Gia Định báo xuất bản - tờ báo tiếng Việt đầu tiên, rồi những tờ báo tư nhân sớm nhất cũng ở xứ này. Vì sao Sài Gòn-Nam Kỳ lại là cái nôi đầu tiên của báo chí Việt Nam?

    Sau cuộc chinh phục bằng quân sự, báo chí được nhà cầm quyền thuộc địa sử dụng như một công cụ tuyên truyền hữu hiệu nhất trong việc ổn định Nam Kỳ - mảnh đất mà họ vừa chiếm được. Cũng chính nơi này, những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của báo chí đã xuất hiện.

    Về chữ quốc ngữ. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong khi Bắc Kỳ vẫn sử dụng chữ Hán, chữ Nho trong các khoa thi thì chữ quốc ngữ “văn tự nước nhà” theo cách gọi của các nhà Duy tân, đã thịnh hành ở Nam Kỳ. Quả là “luồng sóng văn Hán, văn Nôm đã đi từ Bắc vô Nam. Bây giờ luồng sóng quốc ngữ lại đi ngược từ Nam ra Bắc”(1). Trước khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ Lục tỉnh (1867) loại chữ này đã hoàn chỉnh về cơ bản và có khả năng đi vào cuộc sống. Hơn nữa, việc độc tôn chữ Pháp, chữ quốc ngữ cũng nằm trong âm mưu xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp, ở Nam Kỳ, từ 1888, sử dụng quốc ngữ và Pháp ngữ là bắt buộc.

    Báo Lục tỉnh tân văn – tờ báo tiếng Việt xuất bản ở Sài Gòn (1907-1944).

    Về điều kiện kỹ thuật. Nghề in chữ rời, in hoạt bản là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo tính định kỳ của báo chí. Theo sau đội quân xâm lược của Đô đốc Pháp Bonard, những phương tiện đầu tiên của kỹ thuật in hoạt bản được nhập vào Sài Gòn. “Xưởng in này đưa từ Paris sang, gồm máy, chữ, mực, giấy in và 4 công nhân Pháp”(2). Ấn phẩm tiếng Pháp đầu tiên là Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochinchine năm 1961. Xưởng này cũng in công văn, giấy tờ quản lý, sách mỏng... phục vụ chính sách xâm lược của chúng. Theo Hoa Bằng, Gia Định báo là “tờ báo quốc văn in bằng lối hoạt bản đầu tiên ở Nam Kỳ”(3). Như vậy, nhà in đầu tiên thành lập ở Nam Kỳ vào năm 1861.

    Về người làm báo. Cùng với chính sách giáo dục của Pháp, ở Nam Kỳ, một đội ngũ trí thức Tây học đã xuất hiện, tiêu biểu là: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh... Họ truyền bá văn hóa Pháp và là những nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bằng tiếng Pháp.

    Trương Vĩnh Ký (1837-1898), chủ bút tờ Gia Định báo - tờ báo tiếng Việt đầu tiên xuất bản ở Nam Kỳ.

    Về độc giả. Chữ quốc ngữ dễ học, chỉ cần mấy tháng là đọc được. Hơn nữa chữ này xuất hiện và hoàn chỉnh ở Nam Kỳ từ khá sớm, nên số người đọc được ngày càng nhiều hơn.

    * Chế độ báo chí ở Nam Kỳ

    Với Hiệp ước Ác măng (1883) và Pa tơ nốt (1884), Nam Kỳ thực sự là xứ thuộc địa, trực trị, một “hạt” của nước Pháp ở Viễn Đông. Như vậy, chế độ báo chí ở Nam Kỳ được thực thi theo đạo luật ngày 29-7-1881 về tự do báo chí do Quốc hội Pháp quyết định (Loi du 29 juillet 1881 sur la liberté de la Presse). Đạo luật này ban hành ở Pháp ngày 29-7-1881 và được áp dụng ở Nam Kỳ kể từ ngày 22-9-1881. Theo đó, việc ấn hành sách báo ở Nam Kỳ được hoàn toàn tự do, dù báo chữ Pháp hay báo chữ Việt. Đạo luật này còn được áp dụng cho việc phát hành tất cả các loại báo.

    Theo đạo luật 29-7-1881 thì:

    Điều 5: Tất cả các loại báo hoặc ấn phẩm định kỳ sẽ được phát hành không cần sự cho phép trước và không cần ký quĩ tiền sau khi được công bố đúng theo điều 7.

    Điều 6: Mỗi tờ báo hoặc ấn phẩm định kỳ phải có một người quản lý. Người này phải là người Pháp, thành niên, có đủ quyền lợi dân sự, không bị mất quyền công dân bởi một hành vi phạm pháp.

    Điều 7: Trước khi phát hành, các báo hoặc ấn phẩm định kỳ phải được khai báo ở Sở Biện lý những mục sau:

    1 - Tên báo hoặc ấn phẩm định kỳ và loại phát hành.

    2 - Tên họ và địa chỉ người quản lý.

    3 - Ghi rõ nơi in báo.

    Tất cả những thay đổi về những điều bắt buộc trên đều phải được khai báo trước 5 ngày(4)

    Sau khi đã thỏa mãn các điều kiện trên thì tờ báo nào cũng được tự do phát hành trên toàn lãnh thổ thuộc địa. Ngược lại, nếu những điều kiện trên chưa được thỏa mãn, luật pháp sẽ có một số hình phạt truy tố những ai phạm pháp.

    Không đầy hai thập kỷ sau, thực dân Pháp sớm nhận thấy sự “nguy hiểm” của đạo luật 1881. Trong khi Pháp vẫn thừa nhận báo chí tiếng Pháp được tự do xuất bản thì một sắc lệnh khác được ban bố vào ngày 30-12-1898. Thực chất sắc lệnh này chỉ nhằm vào báo tiếng Việt.

    Theo ông Huỳnh Văn Tòng, lý do chính của việc khai sinh sắc luật trên là do tờ Phan Yên báo, một tờ báo Việt ngữ đã đăng một số bài có liên quan đến tình hình chính trị trong nước có ý chống lại sự hiện diện của người Pháp ở Việt Nam.

    Theo sắc lệnh ngày 30-12-1898 thì:

    Tất cả những tờ báo in bằng chữ quốc ngữ (Việt Nam), bằng Hoa ngữ hay bằng bất cứ một thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Pháp phải có sự cho phép trước của quan Toàn quyền sau khi Toàn quyền hội ý với Ban Thường trực Thượng hội đồng Đông Dương (Section permanente du Conseil supérieur de l’ Indochine)(5)

    Với sắc luật này, Toàn quyền Đông Dương có quyền cho phép hay không cho phép, làm khó dễ hay cấm chỉ các báo chí tiếng Việt làm trái lại sắc luật này, tờ báo phải ra toà tiểu hình.

    Xét về phương diện pháp lý, một sắc lệnh có thể hủy bỏ một đạo luật do Quốc hội ban hành. Có ý kiến cho rằng, đây là hiện tượng “quái thai” trong lịch sử luật pháp tư sản. Chính vì thế, sau này, tự do báo chí luôn luôn là mục tiêu đấu tranh của báo chí Việt Nam nói chung, báo chí Nam Kỳ nói riêng.

    Tường Khanh

     

    Chú thích:

    (1).Trường Sơn chí Ung Ngọc Ky, Báo Thanh niên, số 39, ra ngày 2-9-1944, tr. 8.

    (2).Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đăng (cb). Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Mình (tập 2: Văn học-báo chí-giáo dục). NXB TPHCM, 1988, tr 631.

    (3).Hoa Bằng: Từ lối in mộc bản xưa đến thuật in hoạt bản bây giờ. Tri Tân, số 49, 1942, tr 4.

    (4).Henri Litolff: Le régime de la presse en Indochince, 1939, tr 7-8.

    (5).Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đăng (cb), sđd, tr 480.

     



    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Đặc sắc hoa văn trên Bảo vật Quốc gia

    Cổ vật Việt Nam

    Sưu tập Báo chí cách mạng VN (1925-1945)

    • Di sản văn hóa Phật giáo
    • Đèn cổ Việt Nam
    • Khu vực:

    Liên kết Website

    Thống kê truy cập

    • Trực tuyến: 854
      Thành viên online:
      1.host
      Số lượt truy cập: 35724736