Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Đôi điều về nước sạnh của người Chăm Pa xưa qua hệ thống giếng cổ dọc bờ biển miền trung Việt Nam  

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 30/03/2018
  • 89
  • 0

Không nhiều người biết rằng, về cơ bản, toàn bộ miền Trung Việt Nam (từ tỉnh Quảng Bình cho tới tỉnh Bình Thuận), trước đây chưa lâu, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 18 đã dần trở thành lãnh thổ của Đại Việt (tên của Việt Nam thời đó). Trên con đường Nam tiến, cuộc mở cõi của người Việt đã xóa tên một quốc gia, đó là nước Chăm Pa. Quốc gia mất đi không có nghĩa là văn hóa của nó mất theo. Gần như ở mọi nơi trên thế giới này văn hóa của những kẻ chiến bại không bao giờ mất mà, dường như, nó còn sống dậy rất mãnh liệt để cả nhân loại phải chiêm  ngưỡng và nhắc đến. Chăm Pa, may thay, đã là như vậy. Người ta đã biết nhiều đến các đền tháp, những tác phẩm điêu khắc, tượng tròn bằng đá hay đất nung trên khắp miền Trung Việt Nam, những địa danh như Po Kluang Galai, Mỹ Sơn, Po Nagar, Po Dam… nghe đã rất quen và không ít người đã hơn một lần ghé thăm. Nhưng văn hóa Chăm Pa không chỉ là kiệt tác của kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc. Còn nhiều thành tựu khác như đồ gốm, đất nung, những viên gạch trên những ngôi đền tháp như thách thức thời gian và khí hậu nghiệt ngã, nghề dệt vải trồng bông… Bên cạnh đó kĩ năng tuyệt vời về tìm các mạch ngầm nước ngọt và kỹ thuật khai thác nó để tạo nên cuộc sống, nơi mà thiên nhiên hiếm khi chiều chuộng con người.

Khi tiến hành khảo sát miền Trung, chúng tôi thường để mắt đến những di tích giếng Chăm Pa và đã phát hiện được hàng loạt những giếng Chăm với địa bàn chủ yếu là những cồn cát ven biển, hay giữa những cánh đồng, một số trong nhà dân cả ở nông thôn và thành thị. Trên núi thì mật độ ít hơn, có thể trên vùng cao còn có nhiều nguồn nước sạch dễ khai thác như suối, nước mạch…Và để tồn tại, phát triển, người Chăm Pa đã tìm những nguồn nước sạch, nước ngọt từ lòng đất qua một hệ thống giếng nước rất đặc biệt.

Các di tích giếng Chăm Pa ở đây có thể chia thành 3 kiểu:

1.Giếng mở:

Lấy nước mạch từ sườn đồi, núi thấp ra chảy vào khu vực được đào và kè đá, nước trong, chất lượng tốt và chỉ để ăn uống. Sau đó nước chảy ra cấp thứ hai rộng hơn, được giới hạn với xung quanh bằng bờ đất có kè đá. Nước ở đây đã ít sạch hơn nên để tắm giặt…, giai đoạn thứ 3 nước chảy gần như tràn ra một hố rộng ngay trên bờ ruộng, chỉ được ngăn lại bằng đá, xếp sơ sài, đây là nơi trâu bò, súc vật uống và cuối cùng chảy xuống ruộng. Vài ba cái giếng như vậy đủ cung cấp nước cho cả chục mẫu ruộng. Ở Vĩnh Linh, Cam Lộ, Gio Linh (Quảng Trị) có một hệ thống giếng mở đã được nhiều người biết đến, nghiên cứu và có nhiều ý kiến khác nhau. Chúng tôi xin mượn một phần trong luận văn thạc sĩ của Lê Đức Thọ, nhà nghiên cứu Lịch sử - Văn hóa ở Quảng Trị (Luận văn: Các công trình giếng cổ Quảng Trị) để nói về chuyện này.

Bắt đầu trích dẫn:

Người có công đầu trong việc khảo tả, phân loại các công trình khai thác nước này là M.Colani. Trong suốt những năm từ 1912 đến 1940, Bà đã tiến hành các đợt khảo sát trên một địa bàn khá rộng, gồm các vùng đất thuộc Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. Sự xâm nhập thực tế và những khảo chứng có giá trị của M.Colani đã để lại cho chúng ta ngày nay một hệ thống các bản vẽ, sơ đồ, bản ảnh khá chi tiết và nhiều người đã sử dụng chúng như những tư liệu gốc, đặc biệt là khi đề cập đến một số công trình đã bị phá hủy, cải tạo hay bỏ đi không dùng nữa...

Trong các chuyên khảo của mình, M. Colani đã sử dụng thuật ngữ "Système" (hệ thống) khi nhắc đến những công trình khai thác nước bằng đá xếp tiêu biểu ở Gio An. Theo Bà, một "Système" hoàn chỉnh nhất gồm nhiều bộ phận với công dụng chức năng riêng và các bộ phận này sắp xếp liên hoàn từ cao xuống thấp theo bình độ hạ dần của chân sườn đồi (như các công trình Giếng Đào, Giếng Trạng, Giếng Kình...).

Bà cũng đã sử dụng thuật ngữ "Puits" (giếng) chỉ những hố hình tròn hay vuông để lấy và chứa nước ngầm, vách được kè đá để chống sụt lở... Ngoài ra, Bà cũng cũng thường sử dụng thuật ngữ "Bassin" (bể hay vũng) (*) để chỉ những công trình xếp đá hình tròn hoặc bầu dục ở ngay cửa mạch nước ngầm, phía ngoài có cửa thoát nước ra mương dẫn hay ruộng... Cũng có thể những "Bassin" kết hợp với nhau tạo thành một "Système", nối giữa chúng là các máng (hay còn gọi là vòi) được chế tác bằng các khối đá "tổ ong" - một loại đá bazan có kích thước lớn...

Tháng 7 năm 1937, M.Colani đã tiến hành đào một số hố thám sát quanh một số bể (Bassin) và trên các con đường bậc thang dẫn xuống các công trình "Giếng Đào", "Giếng Kình", "Giếng Đìa", "Giếng Ông". Hiện vật thu được ít ỏi và khá đồng nhất. Trong báo cáo, M.Colani có nói đến những mảnh gốm cổ, những mảnh gốm hiện đại, song không cho biết cụ thể, ngoài ra còn có vài đồng tiền niên hiệu Gia Long, Tự Đức, Thiệu Trị...

Sau khi khảo sát, bằng những nhận xét có tính chất so sánh với các công trình thủy lợi ở Phan Rang và một số dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của Chămpa, cũng như hệ thống thủy lợi truyền thống của người Việt, Thái, Khmer, vấn đề nguồn gốc chủ nhân của những công trình khai thác nước ở đây được Bà tổng kết một cách khá bất ngờ. Mặc dù M.Colani không xác định rõ chủ nhân nhưng hướng kết luận là chúng "thuộc về một dân tộc ngoại lai đã để lại hậu duệ của mình ở Quảng Trị, song số lượng ít, chìm vào tổng thể". Bà cũng không khẳng định hướng thiên di của tộc người này nhưng thời điểm có mặt của họ có lẽ là vào những thế kỷ sau Công nguyên.

Trên cơ sở những tài liệu của M.Colani, Linh mục L. Cadière cũng tiếp tục sự kiến giải trên bằng việc đưa ra một số giả thiết, rằng chủ nhân của những công trình khai thác nước bằng đá xếp trên là một tộc người ở đại dương đã từng tiến vào khu vực dọc bờ biển Quảng Trị và dấu vết còn lại là một thương điếm (eporium) ở làng Mai Xá có tên là Phường Hàng và một số thương điếm khác trên Cửa Việt. Ông cũng thừa nhận với M.Colani rằng tộc người này có mặt ở đây vào những thế kỷ sau Công nguyên và họ đã bị tiêu diệt vào nửa sau thế kỷ 16 - khi đám tù binh Mạc của tướng Lập Bạo bị chúa Nguyễn Hoàng đày lên xứ Cồn Tiên... Năm 1972, L.Bezacier khi nghiên cứu về văn minh Việt Nam cũng cho những "công trình thủy lợi cổ ở Gio Linh - Quảng Trị thuộc vào thời sơ sử trước Bắc thuộc".

Tóm lại, các học giả người Pháp đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về chủ nhân, niên đại của những công trình khai thác nước bằng đá xếp ở Gio Linh (trong đó chủ yếu là ở Gio An). Tuy nhiên trong tình hình tư liệu lúc bấy giờ, những tài liệu khảo sát và nhận định của M.Colani, L.Cadière là có tính thuyết phục hơn cả. Điều này đã ảnh hưởng không ít đến nhận thức của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Dựa theo những tài liệu của M.Colani, nhiều học giả Việt Nam cũng bắt đầu tiếp cận và tham gia ý kiến về vấn đề này. Năm 1985, trong cuốn sách "Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa nước Việt Nam", tác giả Bùi Huy Đáp đã nói đến hệ thống "các công trình thủy lợi cổ ở Gio Linh - Quảng Trị" (trong đó điển hình là hệ Giếng Kình) là sản phẩm của cư dân thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Có lẽ Ông đã dựa vào những nhận xét của A. Masson và G.Coedès mà đưa ra một niên đại như vậy. 

Năm 1989, trong cuốn "Người Chăm ở Thuận Hải", tác giả Phan Ngọc Chiêu khi nêu lên một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp vùng người Chăm ở Thuận Hải lại đưa ra một quan niệm khá mới mẻ. Ông cho rằng những công trình khai thác nước bằng đá xếp ở Gio Linh - Quảng Trị có thể là của cư dân Chămpa. Năm 1990, trên tạp chí Đất Quảng, số 61, trong bài "Về phương thức trồng lúa của người Chăm cổ", tác giả Đào Hùng cũng thể hiện sự đồng tình của mình về nguồn gốc Chămpa của những công trình này. Ông viết rằng: "Căn cứ vào vết tích hệ thống dẫn thủy vào hồ chứa nước mà M.Colani đã phát hiện ở Gio Linh - một địa bàn cư trú của người Chăm và một số dấu vết tìm thấy trong ảnh chụp một số tỉnh miền Trung, ta có thể hình dung đến hệ thống kênh mương đưa nước vào ruộng của người Chăm xưa”.

Từ tháng 2 năm 1990, Lê Duy Sơn đã tiến hành "Khảo sát những công trình thủy lợi cổ ở Bến Hải - Quảng Trị". Bên cạnh việc khai thác những tư liệu của M.Colani và những người đi trước, các tác giả đã tiến hành nhiều đợt điền dã, thực địa ở Gio Linh và Vĩnh Linh, trong đó chú trọng vào hệ thống những công trình ở Gio An vì sự tập trung và tính điển hình của các đối tượng nghiên cứu ở đây. Dựa trên những khảo sát thực trạng, qua đối chiếu và so sánh, đặc biệt là kết hợp với nhiều tư liệu mới về lịch sử - khảo cổ ở Quảng Trị, các tác giả đã thể hiện quan niệm của mình trong việc coi những công trình khai thác nước bằng đá xếp ở Gio Linh và Vĩnh Linh là sản phẩm độc đáo của cư dân Chămpa vốn đã từng sinh sống trên đất Quảng Trị.

Năm 1991, trên tạp chí Cửa Việt, trong bài viết "Các giếng nước cổ ở Gio An", chúng tôi cũng thể hiện rõ quan niệm này.

Cũng vào năm này, trên tờ "Văn Lang" (California - Hoa Kỳ), Tạ Chí Đại Trường cho in bài "Về dấu vết thủy lợi sử dụng chất liệu đá xếp ở vùng Gio Linh (Quảng Trị)". Sau khi xem xét lại các tài liệu của M.Colani, so sánh với các nguồn thư tịch, Ông đã phản bác lại quan điểm của bà và của L.P.Cadière, chỉ ra những điều bất hợp lý và cuối cùng đã đi đến kết luận: "Hệ thống thủy lợi dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp ở Gio Linh là của những chiến tù 1572" (*). Những "vấn nan" mà Tạ Chí Đại Trường đưa ra và những kết quả của đợt khảo sát thực địa mà Đại học Tổng hợp Hà Nội tiến hành ở Quảng Trị (tháng 3/1992) đã gợi ý cho nhiều học giả rằng cần rà soát lại các kết luận đã đương nhiên được chấp nhận trong nhiều công trình nghiên cứu trước kia cũng như gần đây.

Lâm Thị Mỹ Dung trong bài "Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị", sau khi điểm lại tình hình nghiên cứu, đưa ra những thông tin mới, đã đi đến kết luận: "Chúng tôi thiên về ý kiến cho rằng người Chăm là chủ nhân của các hệ thống bể giếng vùng đất đỏ Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ".

Cũng trên tạp chí Cửa Việt và tạp chí Xưa & Nay, Trần Viết Điền lại đề cập vấn đề "chủ nhân giếng cổ - đá thần ở tổng Bái Trời (Gio Linh - Quảng Trị)". Dựa trên những thư tịch cổ ghi chép về sự kiện 1572 khi đám tù binh nhà Mạc bị đày lên xứ Cồn Tiên, bằng việc nhận xét và suy luận của mình, tác giả cũng đưa ra giả thuyết rằng: Người Việt là chủ nhân của những công trình khai thác nước trên và thời điểm xuất hiện là từ sau năm 1572. (Thực ra là quan niệm của Tạ Chí Đại Trường).

Hết trích dẫn.

Toàn bộ tư liệu trên là những di tích ở vùng đồi núi thấp Gio Linh, Cam Lộ. Những năm 90 của thế kỉ trước, chúng tôi cùng các đồng nghiệp ở Quảng Trị lăn lội khắp các trảng cát Gio Linh, các đồi đất đỏ bazan Vĩnh Linh, Cam Lộ và đã phát hiện, nghiên cứu một loạt những giếng mà ngay lúc đó chúng tôi đã gọi là giếng đóng (giếng tuyền thống) và giếng mở (kiểu thuỷ hệ Gio Linh, Cam Lộ như trên đã trình bày) cho dễ hiểu. Với hệ thống giếng mở có thể thấy ngay chỗ mạch nước chảy ra (vách núi hay chân động cát) là nước để ăn, qua ngăn ngoài người ta tắm giặt, chảy tiếp ra là xuống ruộng để cấy cày. Ngày xưa con người ứng xử với thiên nhiên đẹp thế đấy. Sau này trên địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Ninh Thuận… chúng tôi đã tìm thấy nhiều những giếng đóng và mở ấy. Về chủ nhân của thuỷ hệ Quảng Trị cho đến nay vẫn chưa thể có kết luận cuối cùng, song, theo chúng tôi Đó không phải là sản phẩm của người Việt. Đó là của Chăm Pa và có thể, một số giếng có niên đại trước Chăm.

2.Giếng nửa mở:

Loại này thường lấy nước từ những mạch nguồn ở chân những cồn cát, có nơi gọi là giếng bộng vì giữ nước bằng một khúc thân cây khoét rỗng. Ở Miền Trung, loại này không có nhiều. Nước đùn mạnh lên từ một mạch ngầm, người ta lấy tấm đá lớn cưa, đục bỏ lõi, ở một phần ba thân họ đục một cái lỗ nhỏ để nước chảy ra, người ta úp cái thân đá hoặc thân cây khoét rỗng lên chỗ mạch nước, cố định chắc chắn, nước chảy dâng lên và thoát ra từ lỗ nhỏ đã khoét. Hứng nước ở đó mang về. Ít thấy người dân sinh hoạt quanh cái giếng này. Nước chảy tự nhiên quanh năm ngày tháng, nếu không ai dùng, nước chảy thoải mái ra ruộng. Dân Việt hiện nay gọi là Giếng Mọi, chỉ giếng của người Chăm Pa xưa.

3.Giếng đóng:

Địa bàn phân bố cũng rộng nhất, suốt dọc miền Trung Việt Nam ngày nay (Chăm Pa xưa), ở đâu cũng thấy xuất hiện những giếng này. Là loại phổ biến nhất. Giếng loại này có đa số ở vùng biển, các làng chài, bên cồn cát, bãi ngô, ruộng lúa hiện nay. Giếng đều có hình vuông, mỗi cạnh cái nhỏ 1,15 mét, trung bình từ 1,25 đến 1,35 mét, cái lớn 1,50 mét. Tùy tình hình nguyên liệu mà giếng được lát gạch hay đá. Nơi có nhiều đá, nhất là đá ong thì giếng được lát đá suốt từ trên xuống dưới. Nơi có nhiều gạch thì được xây gạch dầy và chắc chắc toàn bộ lòng giếng, có nơi lại nửa gạch nửa đá. Đặc biệt ở dưới đáy luôn luôn có một cái khung gỗ bản, cao chừng 35cm đến 40cm, gỗ chắc và không bị mục. Chúng tôi vẫn chưa giải thích được công dụng của tấm gỗ này. Trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ba huyện: Lộc Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh. Ở đây, chúng tôi đã phát hiện và bước đầu nghiên cứu một số giếng cổ mà người dân không biết được làm từ bao giờ.

3.1. Huyện Lộc Hà: Tại thôn Mai Lâm, xã Mai Phụ, trong vườn nhà ông Nguyễn Lợi (toàn bộ nhà, vườn đã bỏ hoang) chúng tôi phát hiện một giếng nước đã không còn dùng. Giếng có xây thành hình vuông, lòng giếng xếp đá hình vuông, dưới đáy giếng có khung gỗ vuông. Do nước giếng không còn nhiều nên dễ nhận thấy khung gỗ vuông dưới đáy và có thể đo được các kích thước của giếng: Giếng hình vuông: 130cm x 130cm; thành giếng cao: 95cm; Từ mặt đất đến mép trên khung gỗ: 175cm; Khung gỗ cao: 52cm mỗi bên do 2 mảnh ghép lại. Nước: 40cm. Đá xếp lòng giếng là loại đá núi, không có tại chỗ. Theo người dân địa phương, giếng này không dùng cách đây khoảng 10 năm, trước đó cả làng dùng nước giếng này để ăn uống. Giếng nằm gần sông Sót (phần hạ lưu của sông Nghèn, đỏ ra cửa Sót, đi thuyền mất khoảng 1 giờ). Tại khu vực này trước đây có nhiều giếng tương tự, nay đã mất.

3.2. Huyện Cẩm Xuyên: Tại thôn Bắc Mỹ Lộc, xã Cẩm Huy trong khuôn viên nhà ông Trương Văn Thọ còn một giếng hình vuông, xếp đá, thành xây mới, dưới đáy giếng có một khung gỗ vuông. Lòng giếng có kích thước: 120cm x 120cm; thành giếng cao 70cm; từ mặt đất đến mép trên khung gỗ: 120cm; từ khung gỗ đến đáy: 45cm, cũng là mực nước. Theo ông Thọ, giếng này mới bỏ không dùng 5 năm nay, trước đây cả làng, trên 40 hộ dùng giếng này để ăn uống, nước rất ngon, tốt và không khi nào cạn. Đặc biệt là trước đây thời ông bà ông Thọ có người Hoa đi biển hay vào lấy nước. Ông Thọ và những người già trong làng đều không biết giếng có từ bao giờ.

3.3. Huyện Kỳ Anh: Có lẽ chưa ở đâu thuộc Bắc Trung bộ mà các giếng cổ, đặc biệt là giếng hình vuông mà chúng ta quen gọi là giếng Chăm lại có mật độ dày đặc như ở các xã duyên hải thuộc huyện Kỳ Anh.

Xã Kỳ Ninh: 6 giếng vuông, 4 giếng tròn

Xã Kỳ Lợi: 11 giếng trong đó có 2 giếng được sửa lại thành hình tròn nhưng dưới đáy vẫn là hình vuông

Xã Kỳ Long: 6 giếng trong đó có 3 giếng đã sửa thành hình tròn

Xã Kỳ Xuân: 13 giếng, phần lớn đã bỏ hoang bị hư hỏng nhiều.

Xã Kỳ Thịnh: 7 giếng đã bị hỏng 3 còn lại 4 giếng được sửa chữa cẩn thận. Đặc biệt ở xóm 7 có một giếng vuông có tên là giếng Lòi. Chúng tôi cho rằng đây là cách người Việt miền Trung vẫn gọi người Chăm là Lòi, Lồi hay Hời.

Trong đợt điều tra này chúng tôi đã đến được 10/47 giếng của các xã Kỳ Ninh, Kỳ Châu, Kỳ Trinh, Kỳ Lợi. Các giếng ở đây đều có đặc điểm chung là hình vuông, có một số giếng đã được cải tạo thành hình tròn, song vẫn quan sát rõ đáy giếng hình vuông, xếp đá, phần thành giếng chủ yếu được xây từ vài chục năm nay, có trát xi măng. Tất cả các giếng này đều có khung gỗ vuông dưới đáy, nhiều nơi người dân gọi là giếng bộng vì họ gọi phần gỗ lát đáy giếng là bộng gỗ. Độ sâu của những giếng này dao động từ 3m đến 6m tuỳ theo địa hình thấp hay cao. Nước giếng rất tốt, rất ngon, xưa kia mỗi giếng đều có một cộng đồng chừng 30-40 hộ dùng. Nước không bao giờ cạn kiệt cho dù có hạn đến mấy. Tại vùng này rất nhiều giếng được sửa sang, chủ yếu là xây thành giếng và bờ giếng vào năm 1946 vì trên thành một vài giếng có khác chữ Hán và quốc ngữ như giếng Mò Cua ở thôn Quyền Thượng, xã Kỳ Trinh có dòng chữ quốc ngữ: Việt Nam dân chủ Cộng hoà, năm II. Bên cạnh đó là dòng chữ Hán: Bính Tuất niên mạnh hạ (Tháng đầu mùa hạ, tháng 4 âm lịch năm Bính Tuất). Rất dễ dàng biết được đó là năm 1946. Tại giếng Đồng Tâm 3, ngay gần biển, đã bỏ hoang cũng được xây thành và có dòng chữ Hán: Mạnh hạ nguyệt hoàn thành (hoàn thành vào tháng đầu mùa hạ, tháng 4 âm lịch). Người dân ở đây vẫn nhớ vào thời kỳ năm 1946, có ông chánh tổng tên Nguyễn Dượng đã bỏ tiền của sửa sang lại tất cả các giếng cổ trong vùng để phục vụ đời sống của người dân, nhất là xây toàn bộ thành giếng vì trước đó giếng không có thành. Hiện tượng thành giếng được xây sau là phổ biến của các giếng Cham Pa ở khắp Trung bộ Việt Nam.

Với mật độ giếng rất dày ở Hà Tĩnh, đặc biệt là vùng Kỳ Anh, chúng tôi cho rằng miền đất này trước khi trở thành đất Đại Việt đã có rất nhiều người Chăm sinh sống, thậm chí sau thế kỷ 10, vào thế kỷ 11, 12 thì vùng này vẫn còn nhiều người Chăm.

Những năm cuối thế kỉ 20 và gần đây, nhiều lần tôi và cộng sự đi nghiên cứu khảo cổ học miền Trung và Nam Trung bộ, từ Quảng  Nam, Quảng Ngãi, đến Phú Yên, Khánh Hòa cũng đã khảo sát rất nhiều giếng và hệ thống giếng nước ngọt của Chăm Pa xưa còn sót lại. Những giếng này có hình vuông, kích thước khác nhau, xây bằng gạch Chăm, dưới đáy có khung gỗ quây như cũi. Đặc điểm nổi bật là dù ở độ sâu nào, kích thước nào thì giếng luôn có nước, kết quả điều tra nhân học cũng cho thấy, giếng không bao giờ cạn nước. Tôi làm thực nghiệm bằng cách dùng hai máy bơm hiệu Koler bơm liên tục mà giếng không hề cạn đến đáy dù mức nước mùa khô chỉ khoảng 1m. Điều đặc biệt là chất lượng nước giếng rất tốt, ngay cả ở những giếng sát gần biển. Đây là hệ quả ứng xử của cư dân sống lâu đời ở miền Trung Việt Nam. Ở đây thiên nhiên khắc nghiệt, mùa mưa lũ sông nước bẩn, mùa khô sông nước cạn và nhiễm mặn thì người ta phải biết tìm mạch nước tốt và đào giếng lấy nước để sống. Chúng tôi đi miền Trung nhiều và những nghiên cứu về giếng vuông/Chăm đã gần như đưa đến khẳng định chủ nhân về loại hình giếng này. Đó chính là giếng của người Chăm. Trong bài: Miền Trung Việt Nam và văn hoá giao thoa (một cái nhìn địa văn hoá), Trần Quốc Vượng viết: “cần bổ sung ở nhóm sinh thái nước ngọt - nước đọng một loạt giếng (xếp đá hay/và xây gạch) của người Chămpa ("Giếng Hời" theo cách gọi của dân gian hiện tại). Đi dọc ven biển từ cửa Ròn - cửa Gianh (Quảng Bình) qua Hội An - Cửa Đại - Trung Phường - Tam Kỳ (Quảng Nam) tới cam Ranh (Khánh Hòa)... từ 1982, tôi và giới khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được một loạt giếng Chàm ngay ở bờ biển, nước rất ngọt, không bao giờ cạn, nhiều giếng ấy hiện dân gian Kinh - Việt vẫn đang sử dụng và theo thư tịch cổ Ả Rập - Ba Tư (Xem L, Ferrand 1912) từ thế kỷ VIII-XVI người Chămpa vẫn cung cấp - xuất khẩu nước ngọt từ các giếng ấy cho thuyền buôn quốc tế. Điều bất ngờ nhất, tháng 8 năm 1995, khi chúng tôi phát hiện cái giếng Chàm ở sát cửa Ròn, bà chủ nhà đang quản lý cái giếng đó nói với chúng tôi rằng cho đến nay, thuyền tàu Trung Hoa đi qua vẫn ghé xin nước ngọt ở giếng của bà. Mùa khô nóng cạn kiệt mà mức nước giếng vẫn trên 50cm, mùa mưa, nước giếng dâng lên trên 1m.

Tạm kết

Xây dựng hệ thống giếng là một thiên tài, một thần thái (genius) bản sắc văn hóa Chămpa  (Dẫn theo Trần Quốc Vượng, Miền Trung Việt Nam và văn hoá giao thoa (một cái nhìn địa văn hoá). Tại các đảo ven bờ dọc biển miền Trung như đảo Lý Sơn, đảo Phú Quý, Côn Đảo, đảo Cồn Cỏ… cũng còn nhiều giếng nước kiểu này. Và quan trọng nhất là người dân trên đảo vẫn dùng nước của các giếng này hàng ngày vì không có nguồn nước nào tốt hơn và dồi dào hơn. Các con thuyền đánh cá khi đi đi khơi xa vẫn đến lấy nước từ những giếng này bởi chất lượng nước tốt, để lâu không bị hỏng.

Có một điều đặc biệt thú vị là kĩ thuật đào giếng, kiến thức về mạch nước và văn hóa sử dụng nước sạch (dùng nước giếng có chất lượng tốt) của người Chăm đã được lan truyền ra Đại Việt (vùng đất Bắc Việt Nam ngày nay). Qua điều tra nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam, trên địa bàn các tỉnh Bắc Bộ như Hà Nội (địa bàn Hà Tây cũ), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Yên Bái… có rất nhiều giếng cổ có kĩ thuật Chăm Pa. Giếng có dạng hìm tròn, cũng có nơi có dạng hình vuông, hình chữ nhật, đáy có khung gỗ quây như cũi, nước có chất lượng rất cao và không bao giờ bị cạn.

Hiện nay khi ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ, vùng đất của Chăm Pa cũ, các giếng vuông của người Chăm đã gần như bị bỏ và lấp gần hết. Trong khoảng 15 năm trở lại đây do có kỹ thuật khoan giếng ngầm nên người dân đã bỏ giếng truyền thống. Kỹ thuật đào giếng và tìm mạch nước tốt của người Chăm cùng với hệ thống giếng của họ là một di sản văn hoá. Chúng ta nên quan tâm hơn đến một góc quan trọng của văn hoá Chăm, một phần không thể thiếu của cuộc sống thường nhật đã góp phần tạo nên một văn minh rực rỡ trong Lịch sử.

Giếng Chăm Pa là một loại hình di vật văn hóa vật chất rất thú vị và đáng để nghiên cứu, những cái giếng nước ngọt hay nước sạch được xây dựng trên những miền đất khô hanh, hạn hán, vào mùa khô; còn mùa mưa lại đầy ắp nước bẩn do lũ, nước đấy chảy cuồn cuộn đấy mà không thể dùng. Chỉ còn lại những cái giếng tràn trề nước ngon (cách nói của người miền Trung) luôn là nguồn cung cấp nước không chỉ nuôi sống cộng đồng mà còn là của quý giá cho các thương thuyền qua lại trên biển Đông ngày đó. Trong những món đồ bán cho những thương thuyền ấy không thể thiếu những thùng nước sạch từ những cái giếng bên bờ biển Chăm Pa. Nước sạch cũng là một nguồn hàng quan trọng của người Chăm bán cho những đoàn thương thuyền trong lịch sử. Hiện nay giếng Chăm Pa nói chung và giếng vuông nói riêng đã bị bỏ hoang, hủy hoại và xâm hại quá nhiều, ít người còn dùng giếng nên nguy cơ giếng cổ Chăm Pa sẽ biến mất là không xa nếu như chúng ta và cộng đồng không cùng chung tiếng nói cứu lấy di sản quý giá này, Với tình hình thời tiết, khí hậu thay đổi khó lường như hiện nay, nguồn nước sạch từ những giếng Chăm Pa cổ là vô cùng quan trọng là nguồn sỗng cho người dân miền Trung Việt Nam mỗi khi gặp hạn hán hay bão lũ. Vì di sản, vì cuộc sống, hãy bảo tồn và phát huy những cái giếng cổ Chăm Pa.

(Hình ảnh trong bài viết: Hệ thống giếng Champa cổ huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh)

TS.Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học )

 

 

 

(*) Để tiện sử dụng,chúng tôi xin dùng thuật ngữ “bể”

(*) Những tù binh Mạc của tướng Lập Bạo bị chúa Nguyễn Hoàng đày lên xứ Cồn Tiên năm 1572.

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853