Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

100 năm báo Nữ Giới Chung (1918-2018): Phê phán hủ tục, đề cao chức nghiệp

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 03/04/2018
  • 52
  • 0

* Nữ Giới Chung với việc phê phán hủ tục

Phê phán những hủ tục - được coi như việc đầu tiên để dọn sạch đất, gieo trồng những tư tưởng mới, trong đó có nữ quyền.

Tác giả Nguyễn Song Kim - Nguyễn Mạnh Bổng coi đây là sự “bàn thêm” những điều mà Nguyễn Văn Vĩnh đã từng bàn trên “Nhời đàn bà” của Đại Nam Đăng cổ tùng báoĐông Dương tạp chí. Việc đăng một bài xã thuyết dài tới 4 trang (bài xã thuyết dài nhất trên Nữ Giới Chung) bàn về việc gả cưới, cho thấy, đã đến lúc những tập tục cũ trở nên cổ hủ, lạc hậu trong xã hội đương thời, nó “nguy hiểm hơn nước, lửa, giặc, trộm”, cần phải phê phán và loại bỏ.

Lệ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, tục thách cưới như “đòi cho được giá, như “bán con mua vợ”: Thói đâu có thói nhà người con gái từ khi nhận lời hỏi mà đi, nào sêu nào tết, nào tiểu lễ đại lễ, nào nạp thái vấn danh, nào điện nhạn, vô kể mà nói. Khi nhà trai xin cưới thì đòi ngàn nầy trăm khác, cỗ nọ xe kia, vòng nầy nhẫn khác, áo nọ quần kia, thậm chí đôi dép cái quả, rương, mùng, cái nón cũng đều đòi dẫn đến cho dâu. [Nữ Giới Chung, số 16]

Tác giả Nguyễn Song Kim- Nguyễn Mạnh Bổng tỏ ra khá gay gắt:

Thế ra lấy ta ra mà làm cái hạch ăn, hạch uống, hạch tiền, hạch nong đó sao? Đem ta ra xem tai tròn trán vuông đáng mấy đồng tiền thì đòi cho được giá rồi thì bán ta cho người sao? Cha mẹ họ hàng ta vì ta mới được ăn bữa cơm no rượu say ấy sao? Ta vì cưới lấy người con trai mới được manh quần tấm áo tốt sao? Thảm hại cho thân chị em bạn gái nước ta, vô nghĩa đến thế là cùng. Đê tiện đến thế là cùng” [Nữ Giới Chung, số 16].

Ông cho những việc đó vừa ảnh hưởng đến nhân phẩm của người con gái vừa “hại đến cả của cải trong nước”. Vì mỗi khi có đám cưới thì “hàng Tàu hàng Tây mắc không biết chừng nào”. Từ đó, tác giả đề ra một “sự cách tân”: cưới xin cần phải giản tiện, “tuỳ ngộ”, cứ theo cái phương diện, cảnh huống đôi nhà liệu mà cư xử, đừng nên làm nô lệ cái thói đời: “miễn là một bó hoa thơm, vài bao trà tốt, gọi là một chút thanh nhã thi lễ cùng nhau khi làm lễ tơ hồng, lễ gia tiên, cho vợ chồng được sum họp bách niên, khai vào trong sổ giá thú, nạp lệ dân làng. Những người làm chứng ký trong hôn thú là bà con có bụng yêu mừng, cũng đều uống chén nước ăn miếng trầu gọi là biểu long hoan hỉ chúc cho hai gã tân hôn rồi về, còn công kia việc khác... [Nữ Giới Chung, số 16].

Bài “bàn về việc gả cưới”, Nữ Giới Chung số 16, ngày 31-5-1918.

Tục tảo hôn cũng được một số tác giả Nữ Giới Chung đề cập đến. Các tác giả có thái độ phê phán việc dựng vợ gả chồng cho con quá sớm “thì làm sao mà có đủ ngày giờ cho con tập việc ở đời” hay quan niệm không cho con gái đi học vì sợ “biết chữ đặng viết thư cho trai”. Các tác giả cũng chỉ ra cái hại của tục tảo hôn. Khi con gái còn “chưa rõ đạo làm con trong nhà ra sao” mà đã bắt đem ra gả chồng “thì làm sao mà hiểu đạo làm dâu và kính thờ chồng”, đến khi có con “nào rõ đạo làm mẹ ra sao mà đặng dạy răn con trẻ”[ Nữ Giới Chung, số 15].

Đặc biệt, Nữ Giới Chung lên tiếng bài xích một thói tục xưa nay ở Bắc Kỳ - bán trẻ con. Nữ Giới Chung coi việc bán con là cái “tội” vừa “nghịch với nhơn quần” vừa là “nỗi nhục của xã hội”, cần phải nhanh chóng hủy bỏ. Những người làm cha mẹ sinh con ra “phải hết lòng nuôi dưỡng” không được phép đưa con đi đợ, cầm, bán dù vì bất cứ lý do gì, báo lên án những người như vậy là “tàn nhẫn, giã man” [Nữ Giới Chung, số 17]

Ngoài ra, thói mê tín dị đoan như đi cầu cúng, bói toán, tin có ma quỉ, yêu tinh... cũng được các tác giả Nữ Giới Chung đề cập đến với thái độ bài xích.

* Đề cao phụ nữ chức nghiệp

Trước hết, Nữ Giới Chung coi người phụ nữ có chức nghiệp là người có thể sống tự lập: “dẫu ta còn theo chơn cha mẹ, ta cũng phụ lực cho cha mẹ đặng, theo chồng ta cũng phụ lực cho chồng đặng, theo con ta cũng phụ lực cho con đặng, cùng là ruổi một mình ta, ta cũng có thể làm ra tiền nuôi lấy thân ta khỏi dựa nương ai” [Nữ Giới Chung, số 3].

Hơn nữa, khi trong gia đình “chồng làm việc lương bổng không bao nhiêu” mà người phụ nữ có “nghề thêu tiễu” hoặc “có học ra làm nghề cô giáo” thì sẽ có thêm tiền nuôi sống gia đình.

Nữ Giới Chung cho rằng người phụ nữ, dù thuộc tầng lớp nào: thượng, trung hay hạ đẳng đều “nên tìm một cái chức nghiệp”. Có chức nghiệp, như thế người phụ nữ đã gánh vác giúp đời, đã “giúp ích được cho nhân quần” và “có tư cách làm người”. Chức nghiệp được báo coi như một tiêu chuẩn để xét nhân cách mỗi người.

Mối quan hệ học vấn - chức nghiệp cũng được các tác giả đề cập đến. Một mặt, sự kết hợp giữa học vấn - chức nghiệp sẽ tạo nên “cái thế lực riêng” của mỗi người phụ nữ, mặt khác, “có học vấn khá thì kiếm việc dễ, kiếm việc dễ thì sanh tồn (sống ở đời) được, sanh tồn được thì lo tính nổi những sự cao xa” [Nữ Giới Chung, số 11]. Lấy học vấn làm gốc để có nghề nghiệp, ở đây tác giả có ý coi vấn đề học vấn như một phương tiện quan trọng để mang lại quyền bình đẳng cho người phụ nữ.

Những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề phụ nữ với phát triển văn hóa, phụ nữ giáo dục - người phụ nữ được đến trường, được tham gia vào các hoạt động xã hội thực sự là một vấn đề được xã hội quan tâm. Đây cũng chính là đề tài mà báo giới thời kỳ này sôi nổi bàn đến. Đưa việc đề xướng, cổ vũ nữ học như một mục đích tôn chỉ hàng đầu của bản báo, Nữ Giới Chung đã có những quan điểm khá gần gũi với quan điểm hiện đại về người phụ nữ: nữ học, học vấn - một điều kiện để tiến tới bình đẳng nam nữ, giải phóng phụ nữ; coi sự tiến bộ của phụ nữ là một phần của sự tiến bộ xã hội hay cho rằng phụ nữ cần phải biết tiếp nhận cái hay, cái văn minh của người Pháp...

Mặc dù các tác giả Nữ Giới Chung đưa ra những nhận thức, quan điểm mới về người phụ nữ, nhưng cuối cùng cũng chỉ để khuyến khích phụ nữ làm tốt hơn bổn phận, nghĩa vụ của họ trong gia đình: thờ chồng, dạy con. Đây cũng chính là mâu thuẫn của Nữ Giới Chung và các tác giả, những người vốn xuất thân là những trí thức cựu học. Họ mong muốn đề cập tới một vấn đề đang được thảo luận sôi nổi: nữ quyền, giải phóng phụ nữ nhưng họ cũng lại muốn bảo lưu những giá trị đạo đức phong kiến vẫn còn hợp lý.

Cổ động cho nữ học, nữ giáo, tuy nhiên Nữ Giới Chung chú trọng nhiều đến việc dạy chữ, dạy văn hoá cho người phụ nữ mà ít đề cập đến việc dạy nghề, việc lập các trường nữ công chưa được Nữ Giới Chung coi như một vấn đề cần thiết.

Tường Khanh

 

 

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853